cover photoSlide 1

Bệnh Bạch Hầu: Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Bệnh bạch hầu là gì?

Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn nghiêm trọng ảnh hưởng đến màng nhầy của cổ họng và mũi. Bệnh dễ lây lan từ người sang người qua đường mũi và cổ họng, tuy nhiên, có thể được ngăn ngừa thông qua việc sử dụng vắc- xin.



Nếu bệnh không được điều trị, có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến thận, hệ thần kinh và tim. Có khoảng 3% các trường hợp nhiễm bạch hầu tử vong, theo thống kê của Mayo Clinic. Tỷ lệ tử vong có thể lên tới 20% ở những người nhiễm bệnh dưới 5 tuổi hoặc lớn hơn 40 tuổi.

Các thông tin nhanh về bệnh bạch hầu:

• Trước khi phát triển các phương pháp điều trị và vắc-xin, bệnh bạch hầu đã lan rộng và chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em dưới 15 tuổi.

• Một số triệu chứng của bệnh bạch hầu tương tự như cảm lạnh thông thường.

• Các biến chứng bao gồm tổn thương thần kinh, suy tim và một số trường hợp tử vong.

• Chẩn đoán được xác nhận bằng mẫu bệnh phẩm và xét nghiệm.

• Điều trị bằng kháng độc tố và kháng sinh trong khi bệnh nhân được cách ly và theo dõi trong điều trị tích cực.

Nguyên nhân gây bệnh bạch hầu?


Một loại vi khuẩn được gọi là Corynebacterium diphtheriae gây ra bệnh bạch hầu. Bệnh thường lây lan qua tiếp xúc giữa người với người hoặc qua tiếp xúc với các vật thể có vi khuẩn, như cốc hoặc khăn giấy đã sử dụng. Bạn cũng có thể mắc bệnh bạch hầu nếu bạn ở xung quanh người bị nhiễm bệnh khi họ hắt hơi, ho hoặc xì mũi.

Ngay cả khi một người nhiễm bệnh không có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của bệnh bạch hầu, họ vẫn có thể truyền bệnh cho đến sáu tuần sau khi bị nhiễm bệnh.

Mũi và cổ họng và nơi thường bị các vi khuẩn tấn công. Khi bị nhiễm bệnh, vi khuẩn sẽ giải phóng các chất nguy hiểm gọi là độc tố. Các độc tố lan truyền trong máu và tạo thành một lớp phủ dày mà xám ở mũi, họng, lưỡi hoặc đường thở.

Trong một số trường hợp, những chất độc này cũng có thể làm tổn thương các cơ quan khác, bao gồm tim, não và thận . Điều này có thể dẫn đến các biến chứng có khả năng đe dọa tính mạng, như: viêm cơ tim, liệt, suy thận.

Nguy cơ gây bệnh bạch hầu là gì?

Trẻ em ở Hoa Kỳ và Châu  u thường xuyên được tiêm phòng bệnh bạch hầu, vì vậy tình trạng này rất hiếm gặp ở những nơi này. Tuy nhiên, bệnh bạch hầu vẫn còn khá phổ biến ở các nước đang phát triển nơi tỷ lệ tiêm chủng thấp. Ở những nước này, trẻ em dưới 5 tuổi và người trên 60 tuổi đặc biệt có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu.

Những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu như:

- Không được tiêm vắc- xin ngừa bệnh



- Đến những quốc gia không dự phòng miễn dịch

- Bị rối loạn hệ thống miễn dịch như bệnh AIDS

- Sống trong điều kiện không đảm bảo vệ sinh hoặc quá đông đúc.

Những triệu chứng của bệnh bạch hầu

Dấu hiệu của bệnh bạch hầu thường xuất hiện trong vòng hai đến năm ngày kể từ khi nhiễm trùng xảy ra. Một số người không gặp phải bất kỳ triệu chứng nào, còn một số người có các triệu chứng nhẹ tương tự như cảm lạnh thông thường.

Triệu chứng dễ thấy và phổ biến nhất của bệnh bạch hầu là một lớp phủ dày, màu xám trên cổ họng và amidan . Các triệu chứng phổ biến khác bao gồm: sốt, ớn lạnh, sưng các tuyến ở cổ, ho mạnh, đau họng, chảy nước mũi, da xanh xao, cơ thể mệt mỏi, khó chịu.


Các triệu chứng khi nhiễm trùng tiến triển nặng bao gồm: khó thở, khó nuốt, thay đổi tầm nhìn, nói lắp, dấu hiệu shock như da nhợt nhạt, lạnh, đổ mồ hôi, nhịp tim nhanh.

Trong điều kiện vệ sinh kém hoặc ở những vùng nhiệt đới, cũng xuất hiện bệnh bạch hầu ở da, với những triệu chứng gây loét và đỏ ở vùng bị ảnh hưởng.

Chẩn đoán bệnh bạch hầu như thế nào?

Có các xét nghiệm xác định để chẩn đoán trường hợp mắc bệnh bạch hầu, vì vậy nếu có các triệu chứng hoặc tiền sử nghi ngờ nhiễm trùng thì việc xác nhận chẩn đoán là khá đơn giản.

Thông thường các bác sĩ sẽ nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu khi thấy có màng đặc trưng màu xám ở cổ họng hoặc bệnh nhân bị viêm họng không rõ nguyên nhân, sưng hạch bạch huyết ở cổ và sốt nhẹ. Khàn giọng, tê liệt vòm miệng, tiếng thở khò khè cũng là một dấu hiệu đáng nghi ngờ.

Các mẫu mô lấy một bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu có thể được sử dụng để phân lập vi khuẩn, sau đó được nuôi cấy để xác định và kiểm tra độc tính.

Điều trị bệnh bạch hầu như thế nào?

Bạch hầu là một tình trạng nghiêm trọng, có thể lây lan và gây ra những biến chứng nghiêm trọng. Điều trị có hiệu quả nhất khi thực hiện sớm vì vậy chẩn đoán nhanh là rất quan trọng. Chất chống độc được sử dụng không thể chống lại độc tố bạch hầu một khi nó đã liên kết với các mô và gây ra thiệt hại.

Điều trị nhằm mục đích chống lại tác dụng của vi khuẩn có hai thành phần chính:



- Antitoxin: còn được gọi là huyết thanh chống bạch hầu, để trung hòa độc tố do vi khuẩn tiết ra.

- Thuốc kháng sinh: như erythromycin hoặc penicillin để diệt trừ vi khuẩn và ngăn ngừa nó lây lan.

Bệnh nhân mắc bệnh bạch hầu hô hấp và có các triệu chứng sẽ được điều trị tại phòng chăm sóc đặc biệt trong bệnh viện và được theo dõi chặt chẽ. Nhân viên y tế có thể cách ly bệnh nhân để ngăn ngừa sự lây lan của nhiễm trùng.

Điều này sẽ được tiếp tục cho đến khi các xét nghiệm tìm vi khuẩn liên tục cho kết quả âm tính trong những ngày sau khi hoàn thành quá trình điều trị bằng kháng sinh.

Làm thế nào để ngăn ngừa bệnh bạch hầu?

Bạch hầu có thể phòng ngừa được bằng việc sử dụng kháng sinh và vắc-xin.

Vắc-xin phòng bệnh bạch hầu được gọi là DTaP. Nó thường được tiêm trong một mũi tiêm cùng với vắc-xin ho gà và uốn ván. Vắc-xin DTaP được tiêm trong một loạt năm mũi tiêm, thường được tiêm cho trẻ em trong các độ tuổi sau: 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 15-18 tháng, 4-6 tuổi.


Trong một số ít trường hợp, trẻ có thể bị dị ứng với vắc-xin. Điều này có thể dẫn đến co giật hoặc nổi mề đay, rồi sau đó sẽ biến mất.

Vắc-xin chỉ tồn tại trong 10 năm, vì vậy con bạn sẽ cần được tiêm lại vào khoảng năm 12 tuổi. Đối với người lớn, bạn nên tiêm vắc-xin ngừa bệnh bạch hầu-uốn ván-ho gà kết hợp một lần. Cứ sau 10 năm, bạn sẽ nhận được vắc-xin uốn ván (Td). Thực hiện các bước này có thể giúp ngăn ngừa bệnh hiệu quả hơn.

Gửi câu hỏi